Đường biển rẻ hơn nhiều lần trên mỗi kilogram và chở được khối lượng gần như không giới hạn, đường hàng không nhanh hơn khoảng 5 đến 10 lần, ít hư hỏng hơn và bồi thường cao hơn nhiều khi hàng mất. Chọn phương thức không phải là chọn cái rẻ hơn, mà là so tổng chi phí. Trong đó có cả phần tiền bị chôn trong hàng suốt thời gian vận chuyển.
Bài viết này Blue Sea đưa một công thức để bạn tự tính so sánh vận chuyển đường biển và đường hàng không cho lô hàng của mình, kèm ngưỡng giá trị mỗi kilogram làm điểm chuyển.khác biệt trên mười tiêu chí, chênh lệch cước thật giữa hai phương thức, công thức chi phí vốn tồn kho, thời gian theo từng tuyến từ Việt Nam, mức bồi thường theo hai công ước quốc tế, hàng nào nên đi đường nào, phương án kết hợp, và năm sai lầm thường gặp.
Vận chuyển đường biển và đường hàng không nhau ở đâu?
Hai phương thức khác nhau trên mười tiêu chí, trong đó bốn tiêu chí quyết định phần lớn lựa chọn: chi phí trên mỗi kilogram, thời gian vận chuyển, giới hạn khối lượng và kích thước, và mức bồi thường khi có tổn thất.
| Tiêu chí | Đường biển | Đường hàng không |
| Chi phí mỗi kg | Thấp nhất trong các phương thức quốc tế | Cao hơn nhiều lần |
| Thời gian | 14 – 45 ngày tuỳ tuyến | 1 – 7 ngày tuỳ tuyến |
| Khối lượng | Từ 1 CBM đến gần như không giới hạn | Vài chục kg đến vài chục tấn mỗi chuyến |
| Cách tính cước | Theo container hoặc theo CBM | Theo trọng lượng tính cước |
| Độ tin cậy lịch | Chịu ảnh hưởng thời tiết, tắc cảng | Cao hơn, nhưng vẫn có thể rớt tải |
| Rủi ro hư hỏng | Cao hơn — nhiều lần xếp dỡ, hành trình dài | Thấp hơn — ít khâu, thời gian ngắn |
| Hàng quá khổ | Làm được, có thiết bị chuyên dụng | Rất hạn chế theo cửa khoang tàu bay |
| Hàng nguy hiểm | Linh hoạt hơn | Nghiêm ngặt hơn, nhiều loại bị cấm |
| Chứng từ | Vận đơn đường biển, chuyển nhượng được | Vận đơn hàng không, không chuyển nhượng |
| Bồi thường tối đa | 666,67 SDR mỗi kiện hoặc 2 SDR/kg | 26 SDR/kg |
Chi tiết từng phương thức ở bài vận tải đường biển là gì và vận tải hàng không là gì.
Đường biển rẻ hơn hàng không bao nhiêu lần?
Cước đường biển thường thấp hơn cước hàng không khoảng 5 đến 10 lần trên mỗi kilogram, và chênh lệch nới rộng thêm với hàng nặng đi tuyến dài. Nhưng con số đó chỉ đúng khi so cước với cước, và cước không phải toàn bộ chi phí.
Tổng chi phí đến điểm giao gồm bốn phần ở cả hai phương thức: cước chính, phụ phí của hãng, phí tại cảng hoặc kho hàng hóa, và phí dịch vụ gồm khai hải quan cùng vận chuyển nội địa. Phần phụ phí và phí tại đầu bến chiếm tỷ trọng khác nhau ở hai phương thức, nên hai báo giá chỉ so được khi đã quy về cùng phạm vi.
Có một trường hợp đường biển không rẻ hơn: lô hàng nhỏ và nhẹ. Cước hàng lẻ đường biển tính theo mét khối, nên hàng nhẹ mà cồng kềnh bị tính theo thể tích. Cộng thêm phí kho gom hàng, phí lấy lệnh giao hàng và phí ở hai đầu cảng, tổng chi phí một lô nhỏ đi đường biển có khi ngang hoặc cao hơn đi đường bay.
Cách kiểm nhanh: lấy tổng chi phí đến cùng một điểm giao của hai phương án, chia cho số kilogram thật. Nếu chênh lệch dưới khoảng 2 USD mỗi kilôgam thì lợi thế giá của đường biển đã gần như biến mất, và các yếu tố như thời gian, rủi ro, bồi thường, trở thành yếu tố quyết định.
Cách tính cước từng phương thức ở bài giá cước vận tải hàng không và trang báo giá vận tải đường biển.

Tính chi phí vốn tồn kho khi vận tải thế nào?
Chi phí vốn tồn kho là số tiền bị chôn trong lô hàng suốt thời gian nó nằm trên đường, tính bằng giá trị lô hàng nhân chi phí vốn năm nhân số ngày chia 365. Đây là khoản mà so cước với cước không nhìn thấy, và với hàng giá trị cao nó đủ lớn để đảo ngược kết luận.
Chi phí vốn = Giá trị lô hàng × Chi phí vốn năm (%) × Số ngày ÷ 365
Chi phí vốn năm lấy theo lãi suất vay của doanh nghiệp, hoặc theo tỷ suất sinh lời mà số vốn đó tạo ra nếu không bị chôn trong hàng.
Ví dụ cụ thể: Lô linh kiện điện tử 200kg, giá trị 100.000 USD, tuyến Việt Nam đi châu Âu. Đường biển mất 33 ngày, đường bay mất 3 ngày và chênh lệch 30 ngày. Chi phí vốn của doanh nghiệp là 12% mỗi năm.
- Chi phí vốn của 30 ngày chờ thêm = 100.000 × 0,12 × 30 ÷ 365 = 986 USD
- Cước đường biển hàng lẻ cho lô này ≈ 600 USD
- Cước đường bay 200kg × 5 USD/kg ≈ 1.000 USD
- Chênh lệch cước = 400 USD
Chênh lệch cước 400 USD nhỏ hơn chi phí vốn tiết kiệm được 986 USD. Đi đường bay rẻ hơn khoảng 586 USD tính trên tổng chi phí, dù nhìn vào cước thì đắt hơn gần gấp đôi.
Ngưỡng chuyển đổi tính được. Đặt chênh lệch cước bằng chi phí vốn rồi giải ra giá trị mỗi kilogram:
Giá trị mỗi kg tại điểm hoà vốn = Chênh lệch cước mỗi kg ÷ (Chi phí vốn năm × Số ngày ÷ 365). Với chênh lệch cước 4 USD/kg, chi phí vốn 12%/năm và 30 ngày chênh lệch: 4 ÷ 0,00986 = khoảng 406 USD mỗi kilogram.
Đây là con số đáng suy nghĩ, và nó nói ngược với điều thường được nói. Nếu chỉ tính chi phí vốn thuần túy, hàng phải có giá trị trên khoảng 400 USD mỗi kilogram thì đường bay mới hoà vốn tức là chỉ một nhóm rất hẹp gồm linh kiện bán dẫn, dược phẩm và trang sức. Với phần lớn hàng hóa, chi phí vốn một mình không đủ để biện minh cho đường bay.

Ba yếu tố khác mới thường là yếu tố quyết định sau đây:
- Rủi ro mất đơn hàng: Giao trễ làm mất một đơn lặp lại có giá trị lớn hơn nhiều lần chênh lệch cước của một lô.
- Hàng mất giá theo thời gian: Thời trang lỡ mùa, điện tử đời cũ, thực phẩm ngắn hạn giá trị giảm theo tuần chứ không theo lãi suất.
- Tồn kho an toàn phải giữ thêm: Hành trình dài hơn buộc phải giữ tồn kho đệm lớn hơn ở đầu nhận, và khoản đó nằm thường trực chứ không chỉ trong 30 ngày của một lô.
Cách dùng đúng của công thức: tính chi phí vốn ra con số, rồi cộng thêm giá trị của ba yếu tố trên, mới đem so với chênh lệch cước.
Thời gian vận chuyển đường biển và đường hàng không bao lâu?
Đường biển mất từ vài ngày tới hơn một tháng tuỳ tuyến, đường hàng không mất từ một tới bảy ngày, chênh lệch từ 3 lần trên tuyến ngắn tới hơn 10 lần trên tuyến xuyên Thái Bình Dương.
| Tuyến từ Việt Nam | Đường biển | Đường hàng không | Chênh lệch |
| Trung Quốc – Thượng Hải | 3 – 7 ngày | 1 ngày | 3 – 7 lần |
| Singapore | 4 – 6 ngày | 1 ngày | 4 – 6 lần |
| Nhật Bản – Tokyo, Osaka | 7 – 14 ngày | 2 – 3 ngày | 3 – 5 lần |
| Hàn Quốc – Busan | 7 – 12 ngày | 2 ngày | 4 – 6 lần |
| Châu Âu – Hamburg, Rotterdam | 25 – 35 ngày | 3 – 5 ngày | 5 – 10 lần |
| Bờ Tây Mỹ – Los Angeles | 18 – 25 ngày | 2 – 4 ngày | 5 – 8 lần |
| Bờ Đông Mỹ- New York | 28 – 38 ngày | 2 – 4 ngày | 7 – 12 lần |
| Úc – Sydney, Melbourne | 14 – 20 ngày | 2 – 3 ngày | 5 – 8 lần |
Đây là thời gian cảng tới cảng hoặc sân bay tới sân bay, trong điều kiện bình thường. Thời gian cửa tới cửa còn cộng thêm khoảng 2 đến 5 ngày cho thủ tục hải quan, vận chuyển nội địa và xử lý chứng từ ở mỗi đầu. Mùa cao điểm và các đợt tắc nghẽn cảng làm con số dài hơn.
Với hàng có mốc thời gian cứng, cần tính theo thời gian xấu nhất chứ không phải thời gian trung bình. Chênh lệch giữa hai con số đó ở đường biển lớn hơn ở đường hàng không đáng kể.

Khi hàng mất hoặc hỏng, bên nào bồi thường nhiều hơn?
Đường hàng không bồi thường 26 SDR cho mỗi kilogram; đường biển bồi thường 666,67 SDR mỗi kiện hoặc 2 SDR mỗi kilogram, lấy số nào lớn hơn. Tính trên mỗi kilogram, mức của đường hàng không cao gấp 13 lần đường biển.
SDR là đơn vị tính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tỷ giá thay đổi hằng ngày, ở mức tham chiếu khoảng 1 SDR ≈ 1,33 USD.
Ví dụ với một kiện hàng 500 kg:
- Đường biển: số lớn hơn giữa 666,67 SDR và 500 × 2 = 1.000 SDR → 1.000 SDR ≈ 1.330 USD
- Đường hàng không: 500 × 26 = 13.000 SDR → 13.000 SDR ≈ 17.290 USD
Với kiện nhẹ hơn thì khoảng cách hẹp lại, vì mức 666,67 SDR mỗi kiện của đường biển là mức sàn không phụ thuộc trọng lượng. Một kiện 20kg đi đường biển được bồi thường tối đa 666,67 SDR, đi đường bay được 520 SDR, trường hợp hiếm hoi đường biển bồi thường cao hơn.
Điều quan trọng hơn cả hai con số: cả hai đều thấp hơn giá trị hàng rất nhiều với hàng giá trị cao. Lô 500kg trị giá 200.000 USD, nếu mất trắng thì đường bay bù khoảng 17.290 USD, đường biển bù khoảng 1.330 USD tức 8,6% và 0,7% giá trị. Đây là lý do bảo hiểm hàng hóa không phải khoản tùy chọn với hàng giá trị cao, ở cả hai phương thức.
Giới hạn cụ thể áp dụng theo công ước điều chỉnh tuyến vận chuyển của bạn và theo điều kiện in trên vận đơn cần đối chiếu trước khi ký. Chi tiết ở bài bảo hiểm hàng hóa đường hàng không.

Hàng nào vận chuyển đường biển, hàng nào vận chuyển Hàng không ?
Quyết định gọn lại thành năm yếu tố: thời gian có thể chờ, khối lượng, giá trị mỗi kilogram, tính chất hàng, và mức ưu tiên giữa chi phí với tốc độ.
| Yếu tố | Chọn đường biển nếu | Chọn đường hàng không nếu |
| Thời gian | Chờ được 2 – 6 tuần | Cần hàng trong vòng một tuần |
| Khối lượng | Trên 500 kg hoặc trên 3 CBM | Dưới 500 kg |
| Giá trị mỗi kg | Dưới 10 USD/kg | Trên 50 USD/kg |
| Tính chất hàng | Bền, chịu được hành trình dài | Dễ hỏng, nhạy nhiệt độ, dễ vỡ |
| Ưu tiên | Tiết kiệm chi phí | Kiểm soát thời gian |
Nhóm hàng đi đường biển: nguyên liệu thô và nông sản khối lượng lớn như gạo, cà phê, hạt điều, cao su; máy móc và thiết bị công nghiệp nặng; đồ gỗ nội thất; hàng quá khổ quá tải mà cửa khoang tàu bay không nhận được. Hình thức đi theo nguyên container hoặc hàng lẻ ghép container tuỳ khối lượng.
Nhóm hàng đi hàng không: linh kiện điện tử và bán dẫn; dược phẩm và thiết bị y tế, thủy sản tươi, hoa và nông sản tươi, hàng thời trang theo mùa, phụ tùng thay thế cho dây chuyền đang dừng, hàng mẫu và hàng triển lãm có mốc thời gian cố định.
Riêng hàng nguy hiểm cần xét trước cả hai phương án, vì danh mục được nhận của đường hàng không hẹp hơn đường biển đáng kể. xem bài vận chuyển hàng nguy hiểm DG cargo.

Sai lầm phổ biến khi chọn phương thức vận chuyển hàng hóa
Năm sai lầm dưới đây lặp lại nhiều nhất trong thực tế, và cả năm đều làm doanh nghiệp mất tiền theo cách có thể tránh được.
Chỉ so cước chính, bỏ qua tổng chi phí.
Cước biển nhìn rẻ hơn cước bay, nhưng cộng phụ phí, phí ở hai đầu bến, phí lưu kho và chi phí vốn của thời gian chờ thì khoảng cách hẹp lại nhiều. Luôn yêu cầu bảng so tổng chi phí đến cùng một điểm giao.
Lấy thời gian vận chuyển làm thời gian giao hàng.
Con số hãng tàu hay hãng bay báo là thời gian cảng tới cảng hoặc sân bay tới sân bay. Thời gian thực tế tới kho người nhận còn cộng thủ tục hải quan và vận chuyển nội địa hai đầu. xem thủ tục hải quan xuất nhập khẩu. Hàng bị phân luồng kiểm tra thực tế còn kéo dài thêm.
Dùng đường bay cho hàng nặng và giá trị thấp.
Hàng dưới 10 USD mỗi kilogram và trên 500 kg thì đường biển gần như luôn có lợi hơn, kể cả khi tính đủ chi phí vốn. Đây là nhóm mà phép tính không cần làm cũng biết kết quả.
Không tính mùa cao điểm.
Giai đoạn cuối năm và mùa mua sắm ở thị trường nhập khẩu đẩy cả cước biển lẫn cước bay lên, đồng thời làm khan chỗ. Lô hàng có mốc thời gian cứng cần đặt chỗ trước bốn tới sáu tuần trong giai đoạn này.
Chọn theo giá thấp nhất.
Báo giá thấp bất thường thường là báo giá thiếu khoản, hoặc của bên không có mạng lưới đại lý ở đầu nhận. Chênh lệch tiết kiệm được ở khâu chọn giá rẻ thường nhỏ hơn chi phí phát sinh khi lô hàng gặp trục trặc ở nước ngoài.

Nhận báo giá so sánh hai phương thức từ Blue Sea
Blue Sea báo giá cả hai phương thức trên cùng một lô hàng, tách dòng và quy về cùng một điểm giao, để doanh nghiệp so được trên cùng mặt bằng thay vì so hai con số không cùng phạm vi.
Một bộ báo giá so sánh của chúng tôi gồm:
Phương án đường biển: cước chính, phụ phí hãng tàu, phí tại cảng hai đầu, phí vận chuyển nội địa
Phương án đường hàng không: trọng lượng tính cước kèm cách tính, cước chính theo bậc, phụ phí nhiên liệu và an ninh, phí tại kho hàng hóa
Thời gian cửa tới cửa của từng phương án, kèm khung thời gian xấu nhất
Chênh lệch tổng chi phí giữa hai phương án bằng một con số
Ngày hết hiệu lực của cả hai mức giá
Nếu lô hàng nằm trong vùng xám, chúng tôi tính giúp chi phí vốn tồn kho theo chi phí vốn của doanh nghiệp bạn và đưa vào bảng so sánh, để quyết định dựa trên tổng chi phí chứ không chỉ trên cước.
Để nhận báo giá so sánh, gửi cho chúng tôi: tên hàng, số kiện, kích thước từng kiện tính bằng cm, trọng lượng, giá trị lô hàng, điểm đi và điểm đến, ngày hàng sẵn sàng và ngày cần hàng tới nơi.
Xem thêm trang vận chuyển đường biển và vận chuyển hàng không.

