CFR (Cost and Freight – tiền hàng và cước phí) là điều kiện giao hàng trong Incoterms 2020: người bán xếp hàng lên tàu và trả cước tới cảng đến, còn người mua chịu rủi ro kể từ khi hàng đã lên tàu ở cảng đi. Giá CFR không có phí bảo hiểm. Bài viết Blue Sea dùng một ví dụ xuyên suốt: lô 60 tấn thép cuộn mua từ Thượng Hải về Hải Phòng theo giá CFR.
CFR là gì?
CFR là viết tắt của Cost and Freight, nghĩa là tiền hàng và cước phí. Đây là một trong 11 điều kiện của Incoterms 2020 do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) ban hành (ICC Publication No. 723E, áp dụng từ 01/01/2020).
Theo CFR, người bán giao hàng khi hàng đã được xếp lên tàu ở cảng đi, đồng thời thuê tàu và trả cước tới cảng đến. Rủi ro mất mát, hư hỏng chuyển sang người mua ngay tại cảng đi. Người bán không có nghĩa vụ mua bảo hiểm.
Với lô thép ví dụ, nhà máy ở Thượng Hải trả cước về Hải Phòng. Nhưng nếu thép bị ướt hay hư hỏng trong lúc tàu đang chạy, người mua ở Hải Phòng là bên chịu thiệt hại.
CFR chỉ dùng cho đường biển và đường thuỷ nội địa, thuộc nhóm C cùng CIF, CPT, CIP. Trên báo giá hay gặp cách ghi C&F hoặc CNF: C&F là tên dùng trong các bản Incoterms trước năm 1990, CNF là cách viết quen của thị trường. Cả hai không có trong Incoterms 2020, nên hợp đồng nên ghi CFR.

Giá CFR tính như thế nào?
Giá CFR bằng giá FOB cộng tiền cước biển tới cảng đích. Nhưng người mua cần biết thêm: giá CFR chỉ là giá tới mạn tàu ở cảng Việt Nam, còn cách giá vốn hàng về kho một khoảng đáng kể. Các khoản người mua còn phải trả sau giá CFR gồm: phí bảo hiểm nếu tự mua, phí dỡ hàng nếu cước không gồm, phí THC và phí lệnh giao hàng (D/O) ở cảng, thuế nhập khẩu, VAT hàng nhập, phí khai hải quan, và cước xe từ cảng về kho.
Về thuế, Thông tư 121/2025/TT-BTC (hiệu lực 01/02/2026) lấy mốc cửa khẩu nhập đầu tiên để xác định trị giá hải quan. Hàng nhập CFR khai giá CFR, cộng phí bảo hiểm nếu có mua. Cách xác định trị giá được giải thích trong bài trị giá hải quan.
Cách tính giá CFR
Cách dễ hiểu nhất là cộng từng lớp chi phí, từ giá hàng tại nhà máy tới giá hàng về kho. Bảng dưới dùng lô 60 tấn thép cuộn; số liệu là giả định để thấy cách cộng, không phải báo giá thị trường.
| Lớp chi phí | Cách tính | USD |
| Giá FOB Thượng Hải | 60 tấn × 800 USD/tấn | 48.000 |
| Cước biển về Hải Phòng | 60 tấn × 30 USD/tấn | 1.800 |
| Giá CFR Hải Phòng | 48.000 + 1.800 | 49.800 |
| Bảo hiểm người mua tự mua | 49.800 × 110% × 0,15% | 82,17 |
| Trị giá khai hải quan | 49.800 + 82,17 | 49.882,17 |
Nếu người bán báo thêm giá CIF cho cùng lô, có thể kiểm nhanh: giá CIF ≈ giá CFR / (1 − 110% × tỷ lệ phí), tức 49.800 / 0,99835 ≈ 49.882,31 USD. Phần chênh 82,31 USD là phí bảo hiểm người bán tính vào giá.
Khi so hai báo giá CFR, người mua nên hỏi thêm ba câu: cước đã gồm phí dỡ chưa, hãng tàu nào chở, và phí đầu nhập dự kiến ở cảng là bao nhiêu. Hai báo giá chênh nhau 5 USD/tấn có thể bị xoá hết bởi phí dỡ hoặc phí D/O.

Hướng dẫn sử dụng điều kiện CFR – Incoterms 2020
Khi dùng CFR, năm tình huống dưới đây là nơi phát sinh tranh chấp nhiều nhất. Mỗi tình huống kèm cách xử lý cụ thể cho người mua Việt Nam.
Về phương thức vận tải
Chọn CFR hay không phụ thuộc trước hết vào cách hàng được xếp lên tàu. Hàng rời như thép cuộn, than, clinker, phân bón được cẩu thẳng từ cầu cảng xuống hầm tàu, nên thời điểm “hàng lên tàu” rất rõ ràng, CFR dùng tốt.
Hàng container thì khác: người bán thường hạ container ở bãi cảng trước ngày tàu chạy vài hôm. Nếu container bị va đập hay ngập nước ngay tại bãi, rủi ro vẫn thuộc người bán vì hàng chưa lên tàu, trong khi người bán đã mất quyền kiểm soát container.
ICC vì vậy khuyên dùng CPT cho hàng container. Theo CPT, rủi ro chuyển ngay khi giao container cho hãng tàu tại bãi, khớp với thực tế giao nhận. CPT cũng dùng được cho đường hàng không và đường bộ.
Chuyển giao hàng hóa và rủi ro
Người bán CFR được coi là “giao hàng” xong ngay tại cảng đi, lúc hàng lên tàu, không phải khi hàng tới Việt Nam. Hệ quả thực tế: người bán được quyền đòi tiền khi xuất trình vận đơn, dù tàu còn đang trên biển.
Người bán cũng có thể giao bằng cách mua lại một lô hàng đã nằm sẵn trên tàu. Cách này hay gặp với hàng nông sản, dầu, quặng được mua đi bán lại nhiều lần khi tàu đang chạy.
Người mua cần nhớ một mốc: bảo hiểm phải có hiệu lực từ lúc hàng lên tàu. Mua bảo hiểm sau khi tàu đã chạy vài ngày thì phần rủi ro trong những ngày đó không được bảo vệ.
Hợp đồng mẫu còn ghi “hàng qua lan can tàu” nên sửa thành “hàng đã xếp lên tàu”, vì ICC đã bỏ mốc lan can từ bản 2010.
Trường hợp có nhiều người chuyên chở
Hàng đi tuyến xa thường qua cảng chuyển tải. Ví dụ thép từ cảng Mundra (Ấn Độ) đi tàu gom sang Singapore, rồi lên tàu mẹ về Cái Mép. Người bán ký một hợp đồng vận tải xuyên suốt, nhưng có hai con tàu.
Hợp đồng không nói gì thì rủi ro chuyển khi hàng lên con tàu đầu tiên ở Mundra. Nếu người mua muốn người bán chịu rủi ro tới Singapore, hợp đồng mua bán phải ghi rõ “rủi ro chuyển khi hàng xếp lên tàu tại Singapore”.
Với người mua, cách an toàn hơn là giữ mốc mặc định và mua bảo hiểm từ cảng đầu tiên, vì hàng dễ hư hỏng nhất ở khâu chuyển tải.
Chi phí dỡ hàng tại cảng đến
Phí dỡ hàng tại cảng đích do ai trả được quyết định bởi điều khoản xếp dỡ mà người bán thỏa thuận với hãng tàu, không phải bởi bản thân chữ CFR. Với hàng rời đi tàu chuyến, ba điều khoản hay gặp là:
- Liner terms (berth terms): cước đã gồm phí xếp và dỡ, người mua không trả thêm tiền dỡ.
- FO (free out): hãng tàu không lo dỡ, người mua thuê cẩu, công nhân và trả tiền dỡ.
- FIO (free in and out): cước không gồm cả xếp lẫn dỡ.
Nếu phí dỡ đã nằm trong cước, người bán phải chịu và không được tính lại cho người mua, trừ khi hai bên có thoả thuận khác. Người mua nên đọc điều khoản này trên vận đơn hoặc booking note trước khi chốt giá.
Tàu chuyến còn có thời gian dỡ hàng cho phép (laytime). Dỡ quá thời gian đó phát sinh tiền phạt dỡ chậm (demurrage). Hợp đồng mua bán nên ghi mức dỡ mỗi ngày và bên trả tiền phạt, để tránh bị đòi khoản này khi hàng đã về.
Nghĩa vụ thông quan
Theo CFR, người bán lo thủ tục xuất khẩu ở nước bán, người mua lo thủ tục nhập khẩu ở Việt Nam. Hai bên không làm thay nhau, nhưng phải đưa cho nhau chứng từ khi được yêu cầu.
Với lô thép Thượng Hải – Hải Phòng, người mua nên đề nghị người bán gửi sớm bộ chứng từ gồm hoá đơn, phiếu đóng gói, vận đơn, chứng nhận xuất xứ (C/O). C/O mẫu E theo Hiệp định ASEAN – Trung Quốc có thể giúp hưởng thuế suất ưu đãi; thiếu C/O là mất ưu đãi.
Nếu thép thuộc diện kiểm tra chất lượng khi nhập, người mua phải đăng ký kiểm tra trước khi hàng về để không nằm cảng chờ. Các bước khai hải quan tại Việt Nam xem ở bài thủ tục hải quan xuất nhập khẩu.

Cách thể hiện CFR trong hợp đồng ngoại thương
Công thức ghi là: CFR + tên cảng đích + phiên bản Incoterms, ví dụ “CFR Hai Phong Port, Vietnam, Incoterms® 2020”. Tên sau chữ CFR luôn là cảng đích, không phải cảng đi.
Điều khoản giao hàng của lô thép có thể viết như sau:
- Delivery term: CFR Hai Phong Port, Vietnam, Incoterms® 2020.
- Port of loading: Shanghai Port, China.
- Latest shipment date: 30/11/2026.
- Discharging: FO basis, discharge rate 1.500 MT/day, demurrage for Buyer’s account.
- Seller to advise vessel name and ETD at least 3 days before loading.
Năm lỗi hay gặp khi ghi CFR, theo thứ tự rủi ro cho người mua:
- Ghi “CNF” hoặc “C&F” thay vì CFR, không kèm năm Incoterms.
- Chỉ ghi “CFR Vietnam port”, để người bán chọn cảng dỡ.
- Không ghi cảng đi, nên không rõ bảo hiểm phải bắt đầu từ đâu.
- Cam kết “hàng tới Hải Phòng trước ngày…”, trái bản chất hợp đồng gửi hàng.
- Không ghi ai trả phí dỡ và tiền phạt dỡ chậm.
Trách nhiệm của người bán và người mua trong điều kiện CFR
Bộ quy tắc liệt kê 10 mục nghĩa vụ cho mỗi bên, đánh số A1–A10 cho bên bán và B1–B10 cho bên mua. Thay vì đọc theo số mục, người mua dễ nắm hơn khi xếp các nghĩa vụ theo từng giai đoạn của lô hàng.
Trách nhiệm của người bán
Người bán gánh gần như mọi việc trước khi tàu chạy, và chỉ còn nghĩa vụ giấy tờ sau khi tàu chạy:
- Trước khi xếp hàng: chuẩn bị hàng, đóng gói, ghi ký hiệu phù hợp đi biển, làm thủ tục xuất khẩu (A1, A7, A8).
- Thuê tàu: ký hợp đồng vận tải tới cảng đích, tuyến thông thường, loại tàu phù hợp (A4).
- Lúc xếp hàng: đưa hàng lên tàu đúng thời hạn, trả phí xếp và cước (A2, A9).
- Sau khi tàu chạy: báo tên tàu, ngày đi, gửi vận đơn đủ bộ bản gốc (A6, A10).
- Bảo hiểm: không bắt buộc, chỉ phải cung cấp thông tin để người mua tự mua (A5).
Rủi ro của người bán kết thúc ở giai đoạn thứ ba. Từ giai đoạn thứ tư, người bán chỉ còn trách nhiệm với giấy tờ, không còn trách nhiệm với tình trạng của hàng.
Trách nhiệm của người mua
Người mua gần như không có việc trước khi tàu chạy, nhưng gánh gần hết việc từ lúc tàu rời cảng đi:
- Trước khi xếp hàng: báo người bán nếu hợp đồng cho mình quyền chọn thời gian gửi hàng (B10); mua bảo hiểm.
- Khi nhận chứng từ: kiểm vận đơn, hoá đơn khớp hợp đồng rồi thanh toán (B1, B6).
- Trên biển: chịu rủi ro mất mát, hư hỏng (B3).
- Tại cảng Việt Nam: nhận hàng, trả phí dỡ nếu chưa gồm trong cước, làm hải quan, nộp thuế (B2, B7, B9).
Nếu người mua có quyền chọn ngày gửi hàng mà không báo kịp, người mua phải gánh rủi ro kể từ hạn giao hàng ghi trong hợp đồng, dù hàng chưa lên tàu.
Người mua CFR không có nghĩa vụ mua bảo hiểm với người bán, nhưng vì rủi ro trên biển là của mình nên gần như luôn tự mua. Mức A khác mức C thế nào được so sánh trong bài bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu.

Ưu điểm và nhược điểm của điều kiện CFR
Nhìn từ phía người nhập khẩu Việt Nam, CFR có lợi ở khâu đặt tàu nhưng bất lợi ở khâu kiểm soát. Hai phía dưới đây giúp cân xem lô hàng của mình nghiêng về bên nào.
Ưu điểm:
Lợi thế lớn nhất là người mua không cần đội ngũ ở nước ngoài mà vẫn chủ động được bảo hiểm:
- Không phải tự tìm tàu ở Trung Quốc, Ấn Độ hay Nga khi chưa có đối tác giao nhận ở đó.
- Người bán lớn thường có hợp đồng cước theo năm, nên cước tốt hơn người mua tự đặt.
- Người mua tự chọn công ty bảo hiểm trong nước, khi có tổn thất thì đòi bồi thường bằng tiếng Việt, tại Việt Nam.
- Giá CFR thấp hơn giá CIF của cùng lô, đúng bằng phần phí bảo hiểm.
Nhược điểm:
Bất lợi nằm ở chỗ người mua gánh rủi ro trên một con tàu mình không chọn:
- Rủi ro chuyển ngay tại cảng đi, khi hàng còn cách Việt Nam nhiều ngày đi biển.
- Không mua bảo hiểm thì khi mất hàng chỉ còn đòi hãng tàu, mức bồi thường bị giới hạn.
- Người bán chọn tàu; tàu cũ, lịch chậm hay chuyển tải nhiều lần, người mua khó phản đối.
- Cước rẻ bất thường hay đi kèm phí THC, phí D/O cao ở cảng Việt Nam.
Danh sách các khoản thu ở cảng đích và mức thường gặp có trong bài local charges xuất nhập khẩu.

Khi nào nên sử dụng điều kiện CFR?
CFR hợp nhất khi hàng rời, người bán có lợi thế cước, và người mua muốn tự mua bảo hiểm. Người mua có thể tự trả lời bốn câu hỏi dưới đây để quyết định.
- Hàng đi container hay đi rời? Container thì nên chọn CPT; hàng rời thì CFR phù hợp.
- Đã có forwarder ở nước bán chưa? Có rồi thì FOB giúp tự chọn tàu; chưa có thì CFR đỡ việc hơn.
- Có muốn tự chọn mức bảo hiểm không? Có thì CFR; muốn người bán lo luôn thì CIF.
- Hàng có dễ hỏng, giá trị cao không? Có thì dù chọn CFR vẫn nên mua bảo hiểm mức A.
Các mặt hàng Việt Nam hay nhập theo CFR gồm thép cuộn, phôi thép, than, clinker, phân bón, lúa mì, ngô, đậu tương. Đây đều là hàng rời, đi tàu chuyến, số lượng lớn.
So sánh CFR với FOB và CIF
Cùng một lô thép 60 tấn, người bán có thể báo ba giá: FOB, CFR hoặc CIF. Ba giá này chỉ khác nhau ở phần người bán gánh thêm, còn điểm chuyển rủi ro là như nhau.
| Tiêu chí | FOB | CFR | CIF |
| Giá báo lô thép (giả định) | 48.000 USD | 49.800 USD | 49.882 USD |
| Ai đặt tàu, trả cước | Người mua | Người bán | Người bán |
| Ai mua bảo hiểm | Người mua, nếu muốn | Người mua, nếu muốn | Người bán, tối thiểu mức C |
| Rủi ro chuyển khi | Hàng lên tàu ở cảng đi | Hàng lên tàu ở cảng đi | Hàng lên tàu ở cảng đi |
| Tên cảng ghi sau mã | Cảng đi | Cảng đích | Cảng đích |
Điểm giống nhau giữa CFR và CIF:
CFR và CIF giống nhau ở mọi điểm trừ bảo hiểm: người bán đặt tàu, trả cước, rủi ro chuyển khi hàng lên tàu, vận đơn ghi cước trả trước (freight prepaid). CIF chỉ thêm một việc: người bán mua bảo hiểm tối thiểu mức C.
Mức C chỉ bồi thường khi có sự cố lớn như cháy, đắm, mắc cạn. Thép cuộn bị gỉ do nước biển lọt vào hầm tàu thường không nằm trong mức C. Vì vậy người nhập thép hay chọn CFR rồi tự mua mức A, thay vì nhận CIF với mức tối thiểu.

Nếu doanh nghiệp đang cầm báo giá CFR hoặc CNF, Blue Sea Logistics đọc giúp điều khoản xếp dỡ, bên trả phí dỡ và phí cảng dự kiến ở Hải Phòng, Cái Mép, Cát Lái trước khi ký. Khi tàu cập cảng, chúng tôi lấy lệnh giao hàng, khai hải quan nhập khẩu và chở hàng về kho. Thông tin cần gửi: tên hàng, số tấn, cảng đi, ngày dự kiến xếp hàng. Xem thêm dịch vụ hải quan, vận chuyển đường biển. Hotline: 0902 972 959.

